Tag: xuất khẩu

Hội thảo “Nâng cao năng lực xuất khẩu các mặt hàng nông lâm sản

Hội thảo “Nâng cao năng lực xuất khẩu các mặt hàng nông lâm sản

Đặc biệt với tỉnh Bắc Kạn, ý thức được sự quan trọng của hội nhập kinh tế quốc tế đối với phát triển kinh tế xã hội, nên các cơ quan quản lý Nhà nước của tỉnh đang từng bước hoàn thiện chế chế kinh tế, nhất là các chính sách về phát triển ngành nông lâm sản là lợi thế của địa phương.

Hội thảo “Nâng cao năng lực xuất khẩu các mặt hàng nông lâm sản

Hội thảo “Nâng cao năng lực xuất khẩu các mặt hàng nông lâm sản

Thực hiện kế hoạch công tác thông tin tuyên truyền năm 2017, Văn phòng Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế phối hợp với Sở Công Thương tỉnh Bắc Kạn đã tổ chức Hội thảo “Nâng cao năng lực xuất khẩu các mặt hàng nông lâm sản để tận dụng cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới” tại thành phố Bắc Kạn ngày 24/8/2017.

Hội thảo có sự tham dự của hơn 250 đại biểu. Các cán bộ, lãnh đạo đại diện Văn phòng Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế, Cục Xúc tiến Thương mại, Vụ Thị trường Châu Á Châu Phi (Bộ Công Thương) đã tham dự và trình bày các chuyên đề về hội nhập kinh tế quốc tế, cơ hội và khả năng khai thác thị trường trong các hiệp định thương mại tự do nói riêng, cũng như vai trò của công tác thông tin tuyên truyền đối với người dân và doanh nghiệp để tận dụng lợi thế từ hội nhập…

Phát biểu khai mạc Hội thảo, ông Đinh Lâm Sáng- Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Bắc Kạn- khẳng định tiến trình hội nhập kinh té quốc tế của Việt Nam đã có những bước tiến mạnh mẽ với việc tham gia các hiệp định thương mại song phương và đa phương, hàng hóa đã xuất hiện trên thị trường của hàng trăm quốc gia trong khu vực và thế giới. Tuy nhiên, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và hàng hóa Việt Nam vẫn thấp so với các nước khác.

Đặc biệt với tỉnh Bắc Kạn, ý thức được sự quan trọng của hội nhập kinh tế quốc tế đối với phát triển kinh tế xã hội, nên các cơ quan quản lý Nhà nước của tỉnh đang từng bước hoàn thiện chế chế kinh tế, nhất là các chính sách về phát triển ngành nông lâm sản là lợi thế của địa phương. Tỉnh đã ban hành nhiều Nghị quyết quan trọng nhằm đưa ra chính sách hỗ trợ, tăng cường cải cách hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và xuất nhập khẩu hàng hóa, đồng thời tăng cường xúc tiến thương mại đầu tư trong và ngoài nước.

Tuy vậy, là một tỉnh miền núi nằm ở trung tâm nội địa vùng Đông Bắc Bắc Bộ, Bắc Kạn gặp nhiều khó khăn trong phát huy lợi thế của vùng, đặc biệt những khó khăn thách thức để phát triển hoạt động xuất khẩu hàng nông lâm sản do quy mô sản xuất thiếu đồng bộ, manh mún và chất lượng hàng hóa chưa cao… Thông qua Hội thảo này, tỉnh Bắc Kạn nói riêng và các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung trao đổi tìm kiếm giải pháp, đề xuất chính sách phát triển nông lâm sản của địa phương.

Tại Hội thảo, ông Nguyễn Sơn- Phó Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế- cho rằng, để phát huy và khai thác được cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế, áp dụng thực tiễn tại các địa phương, tỉnh Bắc Kạn và các địa phương trong cả nước cần cụ thể hóa các chương trình hành động từ các Nghị quyết về hội nhập kinh tế quốc tế của Chính phủ.

Từ năm 2001 đến nay, cùng với chuyển biến của công tác hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, Việt Nam đã ban hành 4 Nghị quyết quan trọng và đàm phán, ký kết, thực thi 12 hiệp định thương mại tự do (FTA) trong đó có các FTA thế hệ mới như Việt Nam- Liên minh Châu Âu, TPP. Xuất phát từ quá trình đánh giá về quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước khác trong khu vực, việc triển khai các FTA đã ký kết đòi hỏi phải mang lại hiệu quả kinh tế lớn hơn. Do đó, năm 2012, Chính phủ đã ban hành Chiến lược tham gia các thỏa thuận thương mại tự do của Việt Nam đến năm 2020.

Theo đó, việc tham gia các FTA thế hệ mới có những đặc điểm mới so với các FTA truyền thống, đó là: hướng tới sự tự do hóa cao hơn, gần như tự do hóa hoàn toàn, lộ trình tự do hóa ngắn hơn; nội dung cam kết rộng hơn và quy mô lớn hơn so với các FTA truyền thống (chỉ có hàng hóa, dịch vụ, đầu tư) thì còn có thêm các vấn đề phức tạp khác như quyền sở hữu trí tuệ, lao động, môi trường…; đòi hỏi điều chỉnh các chính sách quản lý trong nước như đấu thầu, mua sắm chính phủ, pháp luật đầu tư, lao động việc làm, bảo vệ môi trường…

Trước mắt, Việt Nam cần có chính sách để chuẩn bị thực thi cam kết đã tới hạn thực hiện như cắt bỏ hoàn toàn thuế quan trong ASEAN vào năm 2018, điều chỉnh danh mục các hàng hóa nhạy cảm (có khả năng cạnh tranh kém, cần bảo hộ…).

Riêng về hoạt động xúc tiến thương mại đối với ngành nông lâm sản, ông Bùi Huy Sơn- Cục trưởng Cục Xúc tiến Thương mại- cho rằng, cùng với sự phát triển nhanh và sâu rộng của hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động xúc tiến thương mại là công cụ hỗ trợ hiệu quả nhằm giúp doanh nghiệp tận dụng lợi thế từ việc loại bỏ các rào cản thuế quan và phi thuế quan trong thương mại quốc tế. Thời gian qua, Nhà nước đã dành sự quan tâm nhất định cho công tác xúc tiến thương mại, dù kinh phí thực sự chưa lớn nhưng cho phép tổ chức thực hiện các hoạt động xúc tiến nhằm giúp doanh nghiệp tìm kiếm thị trường, đối tác một cách hiệu quả.

Để công tác xúc tiến thực sự đổi mới và hiệu quả nhất, giai đoạn từ năm 2010 đến nay, Cục Xúc tiến Thương mại tổ chức các hoạt động nâng cao năng lực thiết kế và phát triển sản phẩm với một chuỗi các khóa đào tạo, phổ biến kiến thức về thiết kế, hỗ trợ thuê tư vấn, thiết kế sản phẩm….Đối với hàng nông lâm sản thì thiết kế sản phẩm là công cụ nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, ví dụ bao bì của sản phẩm cần được thiết kế để người tiêu dùng biết quy cách sử dụng, kiểu dáng phù hợp với thị hiếu của từng thị trường…

Bên cạnh đó, cần quan tâm đến xây dựng và phát triển thương hiệu ngành. Để tiến ra thị trường nước ngoài, các doanh nghiệp của Việt Nam phải đầu tư công phu cho thương hiệu và phát triển sản phẩm. Hiện nay, chúng ta đã có thương hiệu ngành Foods of Việt Nam và đang tiến hành với một số sản phẩm thí điểm. Ngoài ra, định kỳ hai năm một lần, tiến hành xét chọn thương hiệu quốc gia với các doanh nghiệp tham gia được tuyển chọn nghiêm ngặt thông qua bộ tiêu chí toàn diện có sự đánh giá của các Bộ, ngành liên quan. Các doanh nghiệp có thể tham gia xét chọn mà không phải mất phí, hoặc doanh nghiệp cũng được hỗ trợ tham gia triển lãm tại nước ngoài. Trên thực tế, các hoạt động xúc tiến thương mại quốc gia do Cục Xúc tiến Thương mại tổ chức đã thu hút sự tham gia của rất nhiều doanh nghiệp trong cả nước.

Khi bàn về thị trường của hàng nông lâm sản Việt Nam thì thị trường Trung Quốc là thị trường quan trọng và ông Tô Ngọc Sơn- Phó Vụ trưởng Vụ Thị trường Châu Á Châu Phi đã giải thích thêm về đặc điểm, vai trò và định hướng để khai thác thị trường rộng lớn này. Trung Quốc hiện là thị trường xuất khẩu nông sản quan trọng của Việt Nam với các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là cao su, sắn lát, gạo, thủy sản, cà phê và rau quả… Giai đoạn 2012 – 2016, xuất khẩu của nhóm hàng này chiếm tỷ trọng bình quân 30% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc, từ mức 4,3 tỷ USD năm 2012 đã tăng lên 5,6 tỷ USD vào năm 2016, tăng 15,5% so với năm 2015 và chiếm tỷ trọng 25,6% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc. Riêng 7 tháng đầu năm 2017, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông, lâm, thủy sản của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 4,16 tỷ USD, tăng 40,4% so với cùng kỳ năm 2016. Về chính sách thương mại của Trung Quốc, sau khi gia nhập WTO, thuế nhập khẩu của Trung Quốc đã giảm xuống trung bình là 9,8%, trong đó, các sản phẩm nông nghiệp chiếm 15,2%. Thuế VAT hàng nhập khẩu ở mức cơ bản là 17% đối với hàng hoá nói chung và ở mức thấp hơn 13% đối với một số thực phẩm, ngũ cốc và dầu ăn thực vật, thức ăn chăn nuôi và phân bón, …

Để tạo thuận lợi cho hàng hóa xuất khẩu sang Trung Quốc, hai nước đã ký kết các thỏa thuận quan trọng, nhất là liên quan đến nông lâm sản như: Bản ghi nhớ về hợp tác song phương trong lĩnh vực thương mại hàng nông sản giữa Bộ Công Thương Việt Nam và Bộ Thương mại Trung Quốc ký ngày 22/4/2013; Thỏa thuận về hợp tác trong lĩnh vực kiểm nghiệm, kiểm dịch động thực vật xuất nhập khẩu giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam và Tổng Cục giám sát chất lượng, kiểm nghiệm và kiểm dịch Trung Quốc ký ngày 19/6/2013; Thỏa thuận hợp tác về kiểm soát an toàn thực phẩm thủy sản và sản phẩm thủy sản xuất nhập khẩu (ký ngày 17/01/2014); Thỏa thuận hợp tác về kiểm soát an toàn thực phẩm (ký ngày 11/9/2008) được hai bên thống nhất kéo dài hiệu lực thêm 05 năm (từ 2013 đến 2018).

Theo đánh giá của các chuyên gia, đối với hàng nông lâm sản Việt Nam thì Trung Quốc có các khu vực thị trường truyền thống (như Quảng Tây, Vân Nam, Quảng Đông, Bắc Kinh) và thị trường tiềm năng (như Tây Nam, Miền Trung, Miền Đông). Vì vậy, để khai thác hiệu quả các thị trường này, doanh nghiệp cần cập nhật thị hiếu mới của thị trường Trung Quốc (hệ thống phân phối hiện đại và online hiện mạnh hơn hệ thống truyền thống).

Doanh nghiệp Việt Nam có thể tìm cơ hội xuất khẩu hàng nông lâm sản sang thị trường Trung Quốc qua một số hình thức cụ thể như: tham gia các Hội chợ triển lãm tổ chức tại Trung Quốc nhằm giới thiệu, quảng bá sản phẩm và tìm kiếm đối tác hợp tác như: CAEXPO, KUNFAIR, CANTON FAIR, SMEs Quảng Châu…Hiện ở mỗi thị trường cơ bản đều có đại diện của các cơ quan Thương vụ Việt Nam, với vai trò thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế thương mại và làm cầu nối kết nối cộng đồng doanh nghiệp hai Bên… Chủ động tìm hiểu, nắm vững các quy định của Trung Quốc về nhập khẩu từng mặt hàng cụ thể; tận dụng hiểu quả các Văn kiện, Thỏa thuận hợp tác liên quan giữa hai nước để tăng cường xuất khẩu, thâm nhập thị trường.; Có nhân viên thông thạo tiếng bản địa để thuận lợi hơn trong quá trình hợp tác…

Các đại biểu tham dự Hội thảo mong muốn các Bộ, ngành, Chính phủ có những điều chỉnh hợp lý về chính sách để các doanh nghiệp nhỏ ở các vùng sâu vùng xa có điều kiện phát triển sản xuất, kinh doanh tại thị trường trong nước và có thể tham gia thương mại quốc tế.

Hội thảo đã cung cấp các thông tin quan trọng và cần thiết không chỉ với doanh nghiệp, người dân mà đặc biệt với các cán bộ, Sở ngành địa phương làm công tác hội nhập kinh tế quốc tế để nhận thức tốt hơn, nắm bắt thông tin cụ thể hơn, từ đó có thể tham mưu đề xuất, kiến nghị với lãnh đạo tỉnh các chính sách phù hợp với năng lực và nhu cầu của doanh nghiệp địa phương.

Văn phòng Ủy ban quốc gia hội nhập quốc tế về kinh tế

Theo baocongthuong.com

Đặt mục tiêu xuất khẩu nông lâm thủy sản 35 tỷ USD trong năm 2018

Đặt mục tiêu xuất khẩu nông lâm thủy sản 35 tỷ USD trong năm 2018

Trong những tháng cuối năm 2017, tăng trưởng của ngành NN&PTNT được đánh giá phụ thuộc rất lớn vào mức tăng trưởng của lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi.

Đặt mục tiêu xuất khẩu nông lâm thủy sản 35 tỷ USD trong năm 2018

Đặt mục tiêu xuất khẩu nông lâm thủy sản 35 tỷ USD trong năm 2018

Với những kết quả khả quan trong năm 2017, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đặt mục tiêu tăng trưởng của ngành NN&PTNT năm 2018 là 3% và kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 35 tỷ USD. Đây là thông tin được đưa ra tại buổi Họp báo thường kỳ tháng 9 do Bộ NN&PTNT tổ chức chiều nay (6/9), tại Hà Nội.

Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai, bão lũ nhưng sức sản xuất của ngành nông nghiệp vẫn tiếp tục bứt phá, thị trường tiêu thụ mở rộng hứa hẹn một năm bội thu về xuất khẩu nông lâm và thủy sản. Tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản 8 tháng ước đạt 23,7 tỷ USD, tăng 13,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong các lĩnh vực sản xuất, thủy sản đang có những tín hiệu tăng trưởng và xuất khẩu khả quan. Giá trị xuất khẩu thuỷ sản ước đạt 5,1 tỷ USD, tăng 18,1%. Dự kiến, kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm nay sẽ đạt 8 tỷ USD, tăng hơn 1 tỷ USD so với năm 2016.

Trong những tháng cuối năm 2017, tăng trưởng của ngành NN&PTNT được đánh giá phụ thuộc rất lớn vào mức tăng trưởng của lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi. Tháng 8/2017, giá trứng gia cầm tiếp tục tăng, giá thịt lợn giữ ở mức thấp, nên người dân vẫn thận trọng trong việc đầu tư tái đàn; hiện tại hầu như chỉ các trang trại, gia trại chăn nuôi lợn quy mô lớn bắt đầu tái đàn, nhưng số lượng hạn chế. Ước hết tháng 8, đàn lợn cả nước giảm 4%, đàn trâu giảm 0,5%, đàn bò tăng 2,8%, đàn gia cầm tăng khoảng 5,1% so với cùng kỳ năm 2016.

Theo đánh giá của Cục Chăn nuôi, với nỗ lực tái đàn chăn nuôi lợn phục vụ nhu cầu Tết và sự tăng mạnh trong sản xuất trứng, đạt mức 11 tỷ quả (tăng gần 2 tỷ quả so với năm trước), dự báo năm nay lĩnh vực chăn nuôi sẽ đảm bảo mức tăng trưởng 3%. Bộ trưởng lưu ý, Cục Chăn nuôi tập trung nguồn lực để xây dựng Luật Chăn nuôi đảm bảo hoàn thành đúng tiến độ và chất lượng; xây dựng các chiến lược và quy hoạch phát triển chăn nuôi, đồng thời xúc tiến việc xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi.

Đối với lĩnh vực trồng trọt, do những tháng đầu năm thời tiết diễn biến phức tạp nên sản lượng vụ đông xuân giảm 300.000 tấn lúa; bù lại vụ hè thu ở các tỉnh phía Nam đã thu hoạch 1.085 nghìn ha (chiếm 56,2%) cho năng suất tăng hơn so với vụ trước là 2 tạ/ha, tính ra vụ này sản lượng tăng khoảng 400.000 tấn lúa. Theo đánh giá của Cục Trồng trọt, với diện tích lúa ở miền Bắc đang phát triển khá tốt và kế hoạch sản xuất vụ thu đông ở ĐBSCL, sản lượng dự kiến tăng khoảng 250.000-300.000 tấn so với cùng kỳ năm trước. Tính chung, sản lượng lúa cả năm ước đạt 44,1 triệu tấn. Tuy nhiên, mối lo lớn nhất hiện nay là tình hình dịch bệnh trên lúa (như bệnh rầy nâu, rầy lưng trắng, bạc lá, khô vằn…) và nguy cơ ảnh hưởng của mưa bão ở phía Bắc và lũ ở ĐBSCL. Chính vì vậy, Bộ trưởng chỉ đạo Tổng cục Thủy lợi, Cục Trồng trọt, Cục BVTV nắm chắc tình hình và có biện pháp ứng phó với mưa bão, lũ và dịch bệnh, đảm bảo an toàn cho sản xuất lúa.

Với những kết quả khả quan trong năm 2017, Bộ NN&PTNT đặt mục tiêu, kế hoạch tăng trưởng của ngành NN&PTNT năm 2018 là 3% và kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 35 tỷ USD.

Liên quan đến môi trường biển miền Trung, theo Tổng cục Thủy sản, môi trường biển 4 tỉnh miền Trung đã phục hồi trở lại, nhiều ngư trường ruốc xuất hiện dày đặc; các nghề vây, lưới mành, pha xúc đạt năng suất ổn định. Tính đến nay, tiến độ chi trả bồi thường sự cố môi trường biển đạt 94,3%; hơn 5% còn lại đang chờ tàu khai thác về để tiến hành bồi thường. Tổng cục cũng tăng cường công tác phòng ngừa, ngăn chặn và xóa bỏ các hoạt động khai thác thủy sản bất hợp pháp theo thông lệ quốc tế.

Theo baocongthuong.com

Thời gian áp thuế đường nhập khẩu sẽ được kéo dài

Thời gian áp thuế đường nhập khẩu sẽ được kéo dài

Để bảo vệ doanh nghiệp (DN) sản xuất đường trong nước, mới đây, VSSA đã có công văn gửi Chính phủ và các bộ, ngành đề xuất xem xét vẫn áp thuế cho mặt hàng đường nhập khẩu trong khoảng 3 – 5 năm tới, .

Thời gian áp thuế đường nhập khẩu sẽ được kéo dài

Thời gian áp thuế đường nhập khẩu sẽ được kéo dài

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Hà Hữu Phái – Trưởng đại diện Hiệp hội Mía đường Việt Nam (VSSA) tại Hà Nội – cho biết, niên vụ 2017 – 2018, sản lượng đường thế giới tăng cao, dự kiến thừa 4,6 triệu tấn so với nhu cầu.

Đặc biệt, tại Thái Lan – một trong những quốc gia xuất khẩu đường lớn – do thời tiết thuận lợi nên lượng đường niên vụ 2017 – 2018 có thể đạt kỷ lục 12 triệu tấn, tăng 2 triệu tấn so với vụ trước, gây áp lực về đường nhập khẩu và đường lậu tràn sang Việt Nam. Trong khi đó, tại Việt Nam, do tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn nên sản lượng mía niên vụ này kém, chất lượng thấp, chi phí sản xuất tăng khiến giá đường khó cạnh tranh. Chưa kể, theo các cam kết quốc tế, đến năm 2018, mức thuế cho ngành mía đường sẽ về 0%. Khi đó đường nội càng khó cạnh tranh với đường nhập khẩu.

Để bảo vệ doanh nghiệp (DN) sản xuất đường trong nước, mới đây, VSSA đã có công văn gửi Chính phủ và các bộ, ngành đề xuất xem xét vẫn áp thuế cho mặt hàng đường nhập khẩu trong khoảng 3 – 5 năm tới, bởi đường và gạo là 2 mặt hàng nhạy cảm, cần có cơ chế riêng chứ không thể coi như các loại hàng hóa khác. Hoặc có thể bỏ hạn ngạch nhập khẩu theo đúng cam kết hội nhập và vẫn áp thuế đường nhập khẩu 5% trong vài năm đầu. Đây là thời gian để DN đường trong nước nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập.

Theo baocongthuong.com

Việt Nam nhập khẩu hơn 60% rau quả từ Thái Lan

Việt Nam nhập khẩu hơn 60% rau quả từ Thái Lan

Trả lời về con số nhập khẩu rau quả tăng mạnh thời gian gần đây tại buổi họp báo thường kỳ do Bộ NN&PTNT tổ chức ngày 6/9, ông Hoàng Trung – Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật – cho biết, trong thời gian qua, việc đàm phán với Thái Lan đạt kết quả tích cực.

Việt Nam nhập khẩu hơn 60% rau quả từ Thái Lan

Việt Nam nhập khẩu hơn 60% rau quả từ Thái Lan

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), giá trị nhập khẩu mặt hàng rau quả 8 tháng đầu năm 2017 đạt hơn 1 tỷ USD, tăng 94% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, nhập khẩu từ Thái Lan chiếm hơn 60%.

Trong đó mặt hàng rau ước đạt 190 triệu USD, tăng 35% so với cùng kỳ năm 2016 và mặt hàng quả đạt 809 triệu USD, tăng hơn hai lần so với cùng kỳ năm 2016. Thị trường nhập khẩu rau quả lớn nhất trong những tháng đầu năm 2017 là Thái Lan, chiếm gần 62% thị phần, tiếp đến là thị trường Trung Quốc chiếm 16%. Thị trường có giá trị nhập khẩu rau quả tăng nhiều nhất là Thái Lan (gấp 3,2 lần), tiếp đến là thị trường Ấn Độ (gấp 2,2 lần) và New Zealand (tăng 53,5%).

Ở chiều ngược lại, xuất khẩu hàng rau quả của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm 2017 đạt trên 2,3 tỷ USD, tăng 47% so với cùng kỳ năm 2016. Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ và Hàn Quốc là bốn thị trường nhập khẩu hàng đầu của hàng rau quả Việt Nam, chiếm 85% tổng giá trị xuất khẩu hàng rau quả.

Trả lời về con số nhập khẩu rau quả tăng mạnh thời gian gần đây tại buổi họp báo thường kỳ do Bộ NN&PTNT tổ chức ngày 6/9, ông Hoàng Trung – Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật – cho biết, trong thời gian qua, việc đàm phán với Thái Lan đạt kết quả tích cực. Do đó, hầu hết các loại hoa quả của Việt Nam đều có thể xuất khẩu sang thị trường này. Cụ thể Thanh Long là một trong các sản phẩm trái cây mà Thái Lan rất có tiềm năng nhưng Việt Nam vẫn xuất khẩu vào Thái Lan mỗi năm từ 9-10 ngàn tấn.

Ở chiều ngược lại, Thái Lan cũng xuất sang Việt Nam. Cụ thể, như trái bòn bon, măng cụt, nhãn, thậm chí là mít… đã xuất khẩu sang thị trường Việt Nam. Về số lượng, từ đầu năm đến nay đã tăng nhiều hơn so với nhiều năm qua. Ông Hoàng Trung cho hay, nguyên nhân chính là hầu hết các trái cây này nhập khẩu về Việt Nam sau đó tái xuất sang Trung Quốc. “Phía Cục Bảo vệ thực vật đã kiểm tra đầu nhập và đầu xuất khẩu, theo đó, có đến 90% lượng hoa quả Thái Lan được nhập về Việt Nam rồi tái xuất sang Trung Quốc. Thị trường Việt chỉ tiêu thụ khoảng 10% lượng hoa quả nhập khẩu từ Thái Lan”, ông Hoàng Trung nói.

Ông Hoàng Trung cho biết thêm, trong thời gian tới, riêng đối với các loại trái cây của Việt Nam, theo chỉ đạo của Bộ NN&PTNT, hiện Cục đang tiếp tục mở cửa thêm một số thị trường khác như Úc, Đài Loan, Mỹ… Riêng đối với trái nhãn, đang thực hiện các bước cuối cùng để quả nhãn Việt Nam có thể xuất khẩu sang thị trường Úc.

Riêng về quả nhãn, ông Hoàng Trung cho hay, mỗi năm Việt Nam xuất khẩu khoảng 300 ngàn tấn và tới thời điểm này lượng nhãn xuất khẩu đã đạt khoảng 200 ngàn tấn. Trong đó, thị trường chủ yếu là Trung Quốc và các thị trường khó tính khác như Mỹ. Đáng chú ý, mỗi tháng chúng ta xuất được khoảng 30-100 tấn nhãn sang thị trường khó tính là Mỹ.

Theo baocongthuong.com

Kim ngạch xuất khẩu chè Việt Nam tăng 11,8%

Kim ngạch xuất khẩu chè Việt Nam tăng 11,8%

Giá chè xuất khẩu bình quân 7 tháng đầu năm 2017 đạt 1.569,5 USD/tấn, giảm 1,5% so với cùng kỳ năm 2016.

Kim ngạch xuất khẩu chè Việt Nam tăng 11,8%

Kim ngạch xuất khẩu chè Việt Nam tăng 11,8%

Theo báo cáo “Kết quả thực hiện kế hoạch tháng 8/2017 ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn” của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, lượng chè xuất khẩu của Việt Nam 8 tháng đầu năm tăng 12% về lượng và 11,8% về giá trị.

Khối lượng xuất khẩu chè tháng 8 năm 2017 ước đạt 13 nghìn tấn với giá trị đạt 22 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu chè 8 tháng đầu năm 2017 ước đạt 90 nghìn tấn và 142 triệu USD, tăng 12% về khối lượng và tăng 11,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Giá chè xuất khẩu bình quân 7 tháng đầu năm 2017 đạt 1.569,5 USD/tấn, giảm 1,5% so với cùng kỳ năm 2016. Trong 7 tháng đầu năm 2017, khối lượng chè xuất khẩu sang Pakistan – thị trường lớn nhất của Việt Nam với 26,2% thị phần – giảm 17,8% về khối lượng và giảm 15,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Các thị trường có giá trị xuất khẩu chè trong 7 tháng đầu năm 2017 tăng mạnh là Ấn Độ (gấp 6,66 lần), Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất (gấp 3,12 lần), Đài Loan ( tăng 61,2%) và Ả Rập Saudi (tăng 15,4%).

Thị trường chè nguyên liệu trong nước trong tháng 8/2017 ổn định. Tại Thái Nguyên, giá chè cành chất lượng cao giữ mức 185.000 đồng/kg, chè xanh búp khô ở mức 135.000 đồng/kg. Tại Bảo Lộc (Lâm Đồng), giá chè nguyên liệu (búp tươi) sản xuất chè xanh vẫn giữ mức 9.000 đồng/kg, giá chè nguyên liệu sản xuất chè đen tăng 1.000 đồng/kg lên giữ mức 6.000 đ/kg sau khi tăng 1.000 đồng/kg vào tháng trước.

Theo baocongthuong.com

Cần nâng cao chất lượng nông sản xuất khẩu sang Trung Quốc

Cần nâng cao chất lượng nông sản xuất khẩu sang Trung Quốc

Đơn cử như quả na Lạng Sơn, trước năm 2016 vẫn XK sang Trung Quốc theo hình thức biên mậu, nhưng từ năm 2016, sản phẩm này không áp dụng hình thức tiểu ngạch. 

Cần nâng cao chất lượng nông sản xuất khẩu sang Trung Quốc

Cần nâng cao chất lượng nông sản xuất khẩu sang Trung Quốc

Trung Quốc đang là thị trường nhập khẩu (NK) nông sản chính của Việt Nam. Gần đây, nước này siết chặt điều kiện NK, trong đó có kiểm dịch, khiến nhiều mặt hàng nông sản của Việt Nam gặp khó.

Bà Nguyễn Thị Hà – Chi cục trưởng Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng 7 (Cục Bảo vệ thực vật – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) – cho hay, trước đây, một số loại trái cây mặc dù không nằm trong danh mục được xuất khẩu (XK) sang Trung Quốc, nhưng phía Trung Quốc vẫn tạo điều kiện cho XK theo đường tiểu ngạch. Hiện nay, XK tiểu ngạch bị siết chặt, do đó, phải thực hiện phân tích nguy cơ dịch hại, gửi kết quả, nếu chấp nhận mới được XK.

Đơn cử như quả na Lạng Sơn, trước năm 2016 vẫn XK sang Trung Quốc theo hình thức biên mậu, nhưng từ năm 2016, sản phẩm này không áp dụng hình thức tiểu ngạch. Hiện nay, Cục Bảo vệ thực vật đã làm thủ tục phân tích nguy cơ dịch hại và gửi các thông tin về cơ sở sản xuất, vùng trồng… sang Trung Quốc với hy vọng, na Lạng Sơn sớm có thể XK theo đường chính ngạch.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, anh Đỗ Quang Đức – lái xe đến từ Bình Thuận – cho biết, xe chở thanh long của anh đã nằm chờ ở Cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn) gần 10 ngày, mọi thủ tục kiểm dịch, kiểm tra hàng hóa đã được cơ quan chức năng Việt Nam hoàn tất. Tuy nhiên, xe hàng vẫn chưa được phía Trung Quốc cho thông quan.

Ông Đoàn Tuấn Anh – Phó Chi cục trưởng Chi cục Hải quan Tân Thanh – chia sẻ, phía Trung Quốc đang tăng cường khâu kiểm dịch, xe hàng nào họ cũng lấy mẫu để làm thủ tục kiểm dịch dẫn đến đến việc thông quan hàng mất nhiều thời gian.

Theo các chuyên gia kinh tế, thị trường Trung Quốc đặt ra những yêu cầu ngày càng cao, đòi hỏi nông sản Việt Nam muốn XK sang thị trường này buộc phải thay đổi, trong đó quan trọng nhất là nâng cao chất lượng sản phẩm.

Để gỡ khó cho các doanh nghiệp (DN) XK nông sản, thời gian qua, cơ quan kiểm dịch thực vật cửa khẩu đã nỗ lực kiểm soát để nông sản Việt Nam XK sang Trung Quốc, đáp ứng yêu cầu kiểm tra an toàn thực phẩm từ nước bạn.

Theo ông Đoàn Tuấn Anh, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần quy hoạch vùng trồng trái cây, đầu tư công nghệ chế biến, công nghệ sinh học bảo quản… tránh thiệt hại kinh tế, gây tổn thất cho DN. Các cơ quan chức năng đàm phán với Trung Quốc trong việc thừa nhận kết quả kiểm tra của nhau để giảm thủ tục hành chính, thời gian thông quan, tạo điều kiện cho nông sản XK.

Được biết, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang rà soát các thủ tục, tiếp tục đề nghị Trung Quốc giải quyết mở cửa NK một số mặt hàng như na, măng cụt…, tạo thuận lợi cho các DN trao đổi thương mại chính ngạch. Bên cạnh đó, Bộ đang nghiên cứu, xin chủ trương xây dựng Đề án nâng cao năng lực chế biến hàng nông sản để đảm bảo yêu cầu không chỉ ở thị trường trong nước mà còn tại các nước NK.

Việc đặt ra các tiêu chuẩn cao hơn cho nông sản XK cũng là giải pháp hạn chế rủi ro, tránh tình trạng hàng bị trả lại.
Theo baocongthuong.com

Xuất khẩu của nước ta sang Algeria đã đạt 227,86 triệu USD trong 8 tháng

Xuất khẩu của nước ta sang Algeria đã đạt 227,86 triệu USD trong 8 tháng

Algeria vẫn là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam tại châu Phi sau Nam Phi (506,49 triệu USD).

Xuất khẩu của nước ta sang Algeria đã đạt 227,86 triệu USD trong 8 tháng

Xuất khẩu của nước ta sang Algeria đã đạt 227,86 triệu USD trong 8 tháng

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong 8 tháng đầu năm 2017, kim ngạch xuất khẩu của nước ta sang Algeria đã đạt 227,86 triệu USD, tăng 26% so với cùng kỳ năm trước.

Các mặt hàng xuất khẩu chính gồm: cà phê đạt 38.667 tấn, kim ngạch 84,31 triệu USD, giảm 17% về lượng nhưng tăng 8% về giá trị; điện thoại và linh kiện đạt 58,77 triệu USD, giảm 3%; gạo đạt 29.311 tấn, kim ngạch 11,53 triệu USD, tăng 4 lần về lượng và giá trị.

Algeria vẫn là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam tại châu Phi sau Nam Phi (506,49 triệu USD).

Theo baocongthuong.com

Lượng tôm chưa nấu chín nhập khẩu vào Australia vẫn khiêm tốn

Lượng tôm chưa nấu chín nhập khẩu vào Australia vẫn khiêm tốn

Thay vì tôm chưa nấu chín, các nhà nhập khẩu Australia đang nhập nhiều hơn tôm hấp chín vì không phải trải qua kiểm nghiệm.

Lượng tôm chưa nấu chín nhập khẩu vào Australia vẫn khiêm tốn

Lượng tôm chưa nấu chín nhập khẩu vào Australia vẫn khiêm tốn

Theo Thương vụ Việt Nam tại Australia, lượng tôm chưa nấu chín nhập khẩu vào Australia vẫn khiêm tốn mặc dù lệnh cấm nhập khẩu của nước này đã được dỡ bỏ từ ngày 6/7/2017.

Nguyên nhân là bởi hiện Chính phủ Australia đã nới lỏng lệnh cấm và cho phép nhập khẩu tôm trở lại thị trường này, tuy nhiên các điều kiện nhập khẩu khắt khe hơn trước.

Thay vì tôm chưa nấu chín, các nhà nhập khẩu Australia đang nhập nhiều hơn tôm hấp chín vì không phải trải qua kiểm nghiệm. Theo số liệu của Trung tâm Thương mại thế giới (ITC), Australia nhập khẩu 3.086 tấn tôm hấp chín (HS 0306170029) trong nửa đầu năm nay, tăng 33% so với cùng kỳ năm 2016. Tuy nhiên, nhập khẩu tôm chưa nấu chín giảm 81%, chỉ đạt 976 tấn. Nhập khẩu tôm chung vẫn giảm 48%, đạt 4.372 tấn sau 6 tháng. Giá tôm trung bình tăng 15%, đạt 15 AUD/kg (11,75 USD/kg).

Trước đó, trao đổi với phóng viên báo Công Thương, bà Nguyễn Hoàng Thúy – đại diện Thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Australia cho biết, Việt Nam có 8 doanh nghiệp (DN) xuất khẩu (XK) tôm và thịt tôm chưa nấu chín vào Australia. Những DN này đều có công nghệ sản xuất, chế biến đạt tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, nếu như trước đây, Australia chỉ kiểm tra ngẫu nhiên 5% lô hàng nhập khẩu thì từ ngày 7/7/2017, 100% lô hàng đều phải kiểm tra. Xác suất vi phạm và rủi ro cho DN cao hơn. Vì vậy, DN phải lưu ý bảo đảm các điều kiện kiểm soát an toàn thực phẩm, an toàn sinh học khi XK tôm sang Australia.

Nhằm tạo điều kiện cho DN có cơ hội đẩy mạnh XK tôm sang Australia trong thời gian tới, Thương vụ Việt Nam tại Australia sẽ tiếp tục theo dõi và tháo gỡ kịp thời khó khăn cho DN. Đồng thời, cùng các Bộ, ngành đẩy nhanh quá trình xem xét các cơ sở tôm đã sạch bệnh đốm trắng, đầu vàng tại Việt Nam; thúc đẩy phía Australia nhanh chóng công nhận hệ thống kiểm soát an toàn chất lượng của Việt Nam để sớm đưa tôm tươi nguyên con XK vào Australia.

Việt Nam hiện là một trong 4 nhà cung cấp thủy hải sản lớn nhất cho thị trường Australia (sau Thái Lan, Trung Quốc và New Zealand), nhưng mới chỉ chiếm 11,2% thị phần nhập khẩu tại thị trường này. Trong nhóm hàng này, tôm được tiêu thụ nhiều nhất tại Australia với lượng tiêu thụ hàng năm lên tới 50.000-60.000 tấn.

Theo baocongthuong.com

Thông tin vụ chống bán phá giá tháp gió nhập khẩu từ Việt Nam và Malaysia.

Thông tin vụ chống bán phá giá tháp gió nhập khẩu từ Việt Nam và Malaysia.

Trước đó, ngày 8/6/2017, ADC đã ra Thông báo khởi xướng điều tra (Thông báo số 2017/78), theo đó, SEF dự kiến được ban hành vào ngày 26/9/2017, và bản báo cáo cuối cùng dự kiến được ban hành vào trước ngày 10/11/2017.

Thông tin vụ chống bán phá giá tháp gió nhập khẩu từ Việt Nam và Malaysia.

Thông tin vụ chống bán phá giá tháp gió nhập khẩu từ Việt Nam và Malaysia.

Ngày 7/9/2017, Ủy ban Chống bán phá giá Australia (ADC) thuộc Bộ Công nghiệp, Đổi mới và Khoa học Australia đã ra Thông báo số 2017/126 về việc gia hạn thời gian ban hành Báo cáo về Dữ kiện trọng yếu và Báo cáo về khuyến nghị của ADC trong vụ việc điều tra chống bán phá giá (CBPG) với sản phẩm tháp gió nhập khẩu từ Việt Nam và Malaysia.

Theo đó, để có thêm thông tin về vai trò của các bên liên quan trong việc sản xuất và xuất khẩu sản phẩm liên quan vào Australia và để xác minh thông tin mà các bên liên quan cung cấp, thời hạn để Ủy viên Ủy ban Chống bán phá giá Australia ban hành SEF được gia hạn đến ngày 5/11/2017 và thời hạn cung cấp Báo cáo về các khuyến nghị của ADC tới người có thẩm quyền thuộc Bộ Công nghiệp, Đổi mới và Khoa học Australia (Paliarmentary Secretary) được gia hạn tới trước/hoặc vào ngày 20/12/2017. Sau khi ban hành SEF, các bên liên quan có thể nộp bản đệ trình trình bày ý kiến về báo cáo này trong vòng 20 ngày kể từ ngày ban hành.

Trước đó, ngày 8/6/2017, ADC đã ra Thông báo khởi xướng điều tra (Thông báo số 2017/78), theo đó, SEF dự kiến được ban hành vào ngày 26/9/2017, và bản báo cáo cuối cùng dự kiến được ban hành vào trước ngày 10/11/2017. Ngày 7/8/2017, Ủy ban Chống bán phá giá Australia đã ra thông báo tạm thời (Thông báo CBPG số D60REP 405) về việc chưa áp dụng biện pháp CBPG sơ bộ đối với tháp gió (mã HS: 7308.20.00, 7308.90.00, 8502.31.10) nhập khẩu từ Việt Nam.

Theo baocongthuong.com

Cần nâng cao chất lượng cá tra

Cần nâng cao chất lượng cá tra

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong tháng 8, kim ngạch XK thủy sản ước đạt 749 triệu USD; 8 tháng ước đạt 5,13 tỷ USD, tăng 18,1% so với cùng kỳ năm 2016. Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc là 4 thị trường nhập khẩu hàng đầu của thủy sản Việt Nam, chiếm 55,6% tổng giá trị XK thủy sản.

Cần nâng cao chất lượng cá tra

Cần nâng cao chất lượng cá tra

Đã hơn 1 tháng kể từ thời điểm Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ ra thông báo sẽ kiểm tra 100% các lô cá tra, cá da trơn nhập khẩu từ Việt Nam (từ ngày 2/8/2017), theo các cơ quan chức năng, xuất khẩu (XK) cá tra sang thị trường này vẫn tương đối ổn định. Việc Hoa Kỳ tăng cường kiểm tra cá tra nhập khẩu từ Việt Nam chính là cơ hội để các DN thay đổi quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm.

XK cá tra chưa bị ảnh hưởng

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong tháng 8, kim ngạch XK thủy sản ước đạt 749 triệu USD; 8 tháng ước đạt 5,13 tỷ USD, tăng 18,1% so với cùng kỳ năm 2016. Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc là 4 thị trường nhập khẩu hàng đầu của thủy sản Việt Nam, chiếm 55,6% tổng giá trị XK thủy sản. Đáng chú ý, tới thời điểm này chưa ghi nhận sự ách tắc nào trong XK cá da trơn của Việt Nam sang Hoa Kỳ.

Tại cuộc họp Tổ Điều hành thị trường trong nước thường kỳ tháng 8, ông Nguyễn Quốc Toản – Phó Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) – cho biết, đến thời điểm này, cá tra và tôm vẫn là 2 mặt hàng XK chủ lực trong nhóm thủy sản và giữ tốc độ tăng trưởng khá. Với tốc độ như hiện nay, dự kiến, mục tiêu 7,1 tỷ USD kim ngạch XK thủy sản trong năm nay có thể đạt được.

Cùng nhận định, đại diện Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep) cho biết, XK cá tra Việt Nam sang Hoa Kỳ vẫn diễn ra bình thường sau ngày 2/8/2017 – thời điểm mà tất cả lô hàng các loài cá thuộc Bộ Siluriformes nhập khẩu vào Hoa Kỳ chính thức phải thanh tra. Hiện, Vasep và Cơ quan Thanh tra và an toàn thực phẩm Hoa Kỳ (FSIS – Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ) đang cùng hợp tác làm việc về các vấn đề chung liên quan đến công nhận tương đương và đưa ra những hướng dẫn cụ thể để DN cùng thực hiện.

Thách thức kèm cơ hội

Việc phía Hoa Kỳ kiểm tra 100% các lô cá tra, cá da trơn nhập khẩu từ Việt Nam được xem là thách thức với cá tra XK. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Quốc Toản, khi Việt Nam đang hội nhập sâu rộng thì những thách thức này thường xuyên phải đối mặt. Đây là cơ hội để các hộ nuôi cá và DN XK phải có ý thức nâng cao chất lượng sản phẩm.

Cụ thể, các DN nuôi, chế biến cá tra XK được khuyến cáo sản xuất theo chuỗi giá trị, đảm bảo an toàn thực phẩm từ khâu giống, thức ăn, nuôi, tới chế biến để có thể vượt qua được tần suất kiểm tra 100% khá ngặt nghèo từ phía Hoa Kỳ. Đồng thời thúc đẩy cải thiện chất lượng ngành cá tra một cách toàn diện theo hướng tập trung vào con giống, thương phẩm, chế biến, môi trường; xây dựng và phát triển cụm ngành, chuỗi ngành; nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng hình ảnh và thương hiệu cá tra Việt Nam.

Theo baocongthuong.com